Thứ Sáu, 26 tháng 9, 2014

THU NHỚ

Cuối thu rồi người ơi
Câu hát mùa thu vẫn đợi
Em gửi người nhớ thương vời vợi
Những thu vàng dài mãi nhạc hoài mong.

NHỮNG GIẤC MƠ

Lâu rồi tôi lại mơ những giấc mơ cũ. Tôi mơ thấy Quang Tiến, một giấc mơ dài. Lần này Quang Tiến rất vui. Tôi vui suốt ngày hôm sau. Tôi mơ về phòng 18 Ký túc xá Mễ Trì 37 năm trước với những bạn gái đã lên chức bà. Đêm qua tôi mơ thấy ba. Có lẽ những ngày qua tôi nhớ ba nhiều và hay nói về ba với những người lính cũ của ba. Tôi nhớ ba má và em Trung.
Những giấc mơ này thường về với tôi. Những người thân yêu của tôi đang hiện hữu quanh tôi dù đang ở bất cứ cảnh giới nào. Tôi sẽ sống tốt hơn, cả phần những người đã khuất.

Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2013

NHỚ EM



Sáng nay thắp hương lễ Phật, tôi khóc. Nước mắt thành giọt. 
Những giọt nước mắt đầu tiên từ khi tôi mất em.
Trung ơi, em trai yêu thương của chị, dù em ở đâu cũng biết rằng ngày ngày chị vẫn nhớ thương em. Chị luôn cầu nguyện em sớm về cõi Cực Lạc. Chị dốc lòng để chị em mình được gặp nhau nơi ấy. Gắng lên em nhé.

THU KHÚC






Lại gửi người khúc hát mùa thu
Những ca từ không bao giờ mòn cũ
Đẫm yêu thương và ước mong đoàn tụ
Thu hát cho người
Hát mãi
Người yêu ơi

                        Mùng Một tháng Chín 
                              Quý Tỵ 2013

Thứ Hai, 1 tháng 7, 2013

VĨNH BIỆT EM TRAI YÊU THƯƠNG


Tôi mất em thật rồi.
Như con đà điểu chúi đầu vào cát mỗi khi gặp nguy hiểm, tôi không dám đương đầu với sự thật là tôi không còn em nữa, đứa em trai duy nhất của tôi.
Tôi biết mình không được khóc, để em nhẹ gót thoát trần. Nước mắt kết thành khối nặng, nén chặt tim tôi. Hôm nay tôi thay em gửi thiệp chúc mừng sinh nhật trong tháng 7 đến các thành viên Xóm TRIAN. Tôi cắt tên và ngày sinh của em: Nguyễn Hữu Trung sinh ngày 11/7, như cắt ruột mình.


Tôi là gái mà làm chị cả, em là trai lại mang phận út. Là út, em vẫn phải mang trọng trách trưởng nam, lo hương hỏa gia tiên. Bốn chị em tôi mỗi người mỗi tính nhưng tình yêu thương nhau thì vô hạn. Ba má đau bệnh nhiều năm rồi mất, hoàn cảnh gia đình cho chúng tôi bài học sâu sắc về tình yêu thương. Nhưng không bao giờ tôi có thể nghĩ rằng sau ba má, tôi lại mất em.


Những lúc chăm sóc em, lau mát cho em khi em sốt cao, tôi lại chạm vết chai ở gót chân em. Lúc biết đi, em bị vòng kiềng, má đã đưa em đi nắn chân. Khi ấy em được 2 tuổi, mũm mĩm, chắc nụi. Tôi lớn nhất nên hay bế cõng em, sung sướng nhất là khi đặt được em lên giường. Em không đi được nên dùng tay kéo lết cả người, rất nhanh. Chỗ bột ở gót chân em mòn đi, thịt da em cũng mòn đi, chai lại…   


Thương em cuộc đời ngắn ngủi đầy lận đận. Tôi chỉ còn niềm an ủi duy nhất là số phận đã an bài như vậy, em đã được giải thoát khỏi kiếp nạn trần gian. Chưa kịp thuộc bài kỹ thuật photo ảnh em dạy, tôi để mộc những tấm ảnh cũ chụp lại, nhớ em vô cùng. Những đêm này, tôi vẫn nằm mơ thấy đang canh cho em ngủ hoặc đang niệm Phật cho em. Mong em thoát vòng trần ai, nhẹ cánh về cõi vĩnh hằng. Tôi vẫn ngày ngày cầu nguyện cho em sớm được về miền Cực Lạc. 
Vĩnh biệt em, em trai yêu thương của chị.


Thứ Hai, 19 tháng 11, 2012

ĐI TÌM THÀY GIÁO CẤP I


        
                 Tôi đã được gặp thày sau gần năm mươi năm...
        Hình ảnh người thày đã đưa chúng tôi qua 4 năm cấp I vẫn còn nguyên trong ký ức tôi. Mỗi khi bạn bè học cấp I gặp nhau, chúng tôi vẫn nhắc về thày với niềm kính yêu trọn vẹn.
   Lớp tôi ngày ấy là lớp xóa mù đầu tiên của xã Bắc An huyện Chí Linh. Tôi thuộc lứa thứ hai trong những con em cán bộ miền Nam tập kết công tác tại Nông trường Quốc doanh Chí Linh. Vài anh chị lớn phải ra xã Cộng Hòa học vì Bắc An chưa có trường. Lớp xóa mù chúng tôi được “vỡ lòng” bởi một thày đồ trong thôn Bắc Nội, sau đó chúng tôi được học thày -thày Cách - chúng tôi vẫn gọi thày như thế suốt bốn mươi chín năm qua.
Những đứa trẻ tuổi lên chín lên mười ngày ấy chẳng hề biết họ tên đầy đủ của thày. Chúng tôi cứ hồn nhiên đón nhận những kiến thức đầu đời qua sự dạy dỗ của thày, không bao giờ hỏi là thày quê ở đâu mà về Bắc Nội, một thôn sát bìa rừng của xã Bắc An dạy học. Lũ trẻ chúng tôi mặc nhiên thừa nhận những gì vốn có, không thắc mắc gì cả. Bây giờ tôi cũng không nhớ chính xác là trụ sở Trường Cấp I Bắc An đóng ở thôn nào, hình như là thôn Chín Hạ. Thôn Bắc Nội có một lớp nên chỉ có một phòng học. Thày giáo Cách của chúng tôi ở nhờ nhà dân trong thôn.
Những năm sáu tám, sáu chín của thế kỷ trước, xã Bắc An là vùng sâu vùng xa của huyện Chí Linh. Trường cấp I của xã chỉ mới làm được việc gọi các em học sinh ra lớp và bảo đảm được chương trình giáo dục của mỗi lớp, còn các phong trào khác hầu như chưa có. Vì vậy ngoài một buổi học mỗi ngày và thêm một buổi lao động ngoại khóa mỗi tuần, bọn học trò chúng tôi không biết nhiều về nhà trường nói chung mà chỉ nhớ thày giáo dạy lớp mình. Ký ức tôi còn rõ nét hình ảnh thày Cách ngày ấy. Thày dong dỏng cao, da trắng, gương mặt sáng và đặc biệt là nụ cười bẽn lẽn luôn làm cho thày có một vẻ thật hiền, thật trong sáng. Mỗi khi lên lớp, thày hết lòng giảng giải cho chúng tôi những bài học trong sách giáo khoa. Bọn trẻ con nông trường chúng tôi so với các bạn khác tiếp thu bài khá nhanh và hay bình luận về những giờ dạy của thày nên chúng tôi cũng hiểu bài kỹ hơn. Tôi nhớ mình đã khóc khi nghe thày giảng về tấm gương Nguyễn Ngọc Ký và người bạn của anh…Hai người bạn cõng nhau đi học có những hôm trời mưa bị ngã… Thày cũng dạy chúng tôi những bài hát thời ấy. Tôi còn nhớ nhiều bài như: “Biết ơn chị Võ Thị Sáu”, “Giải phóng miền Nam”, “Kim Đồng”, “Hoa Xuân Tứ” và nhất là bài “Vui mùa chiến thắng” của nhạc sỹ Văn Chừng. Thày thường dẫn chúng tôi đi thi học sinh giỏi. Năm tôi học lớp 4, kỳ thi học sinh giỏi đúng vào đợt gió mùa đông bắc. Thày đưa năm học trò nhỏ từ Bắc An ra thi ở Văn An. Trời rét, gió to, đi ngang qua cánh đồng mới gặt xong còn ngập nước, tôi bị gió bạt xuống ruộng, ướt vào tận lớp áo trong cùng. Đến nơi, thày trò tôi phải nhờ bếp lửa rơm của nhà chủ để hong khô quần áo…
Thế rồi tôi học lên cấp II, cấp III, đại học  và về Nam công tác. Tôi không quên thày giáo dạy cấp I của mình và khi bạn bè gặp nhau, chúng tôi lại nhắc đến thày. Mỗi khi có dịp ra Bắc, tôi đều đi thăm các thày cô giáo mà tôi đã từng được học và tôi vẫn luôn muốn đi tìm thày Cách của chúng tôi. Nhưng tôi chẳng biết làm thế nào để tìm được thày. Tôi chỉ có  hai dữ liệu là thày tên Cách và đã từng dạy cấp I ở thôn Bắc Nội xã Bắc An. Năm tháng trôi, ngoảnh lại phía sau đã bốn mươi lăm năm ngày tôi xa thày, xa trường Cấp I xã Bắc An. Và tôi vẫn không thôi ý định đi tìm thày. Hình như Trời Phật luôn sẵn lòng giúp đỡ những người thực tâm muốn đi tìm ai đó. Xóm Tri Ân đón thành viên mới Nguyễn Xuân Hiểu. Khi biết anh Hiểu đã từng làm hiệu trưởng một trường tiểu học, tôi nghĩ ngay là sẽ hỏi anh về thày. Cảm ơn Trời Phật, tôi đã hỏi đúng địa chỉ. Anh Hiểu cho tôi biết họ tên đầy đủ của thày: Phan Quang Cách và lập tức đồng ý đưa tôi đến nhà thày.
Trên đường đến nhà thày, lòng tôi run lên hồi hộp. Tôi không thể hình dung được thày giáo của tôi như thế nào sau bốn mươi lăm năm xa cách. Lại cảm ơn Trời Phật, thày giáo tôi vẫn khỏe mạnh và minh mẫn. Sau ngỡ ngàng bất ngờ, thày dần dần hình dung lại cô học trò nhỏ ngày xưa. Và bây giờ tôi mới biết lớp chúng tôi là lứa học trò đầu tiên của thày, khi ấy thày mới 19 tuổi…
Hàn huyên vội vàng chuyện gần nửa thế kỷ, tôi lại chia tay thày về Tuy Hòa. Tôi vui vì ký ức mình dầy thêm kỷ niệm, vui vì đã thực hiện thêm một điều ước nguyện trong cuộc đời mình. Và tôi lại có thêm một địa chỉ yêu thương trên mảnh đất Chí Linh, nơi mà tôi luôn muốn tìm về trong hành trình Tri Ân Cuộc Đời.